Lạm phát hài hòa ở Síp tăng lên 2,1%

Vào tháng 1 năm 2019, Chỉ số Hài hòa của Giá Tiêu dùng tại Síp đã tăng 2.1% so với tháng 1 năm 2018, trong khi so với tháng 12 năm 2018, HICP giảm 0.8%, theo dữ liệu công bố vào hôm thứ Sáu bởi Dịch vụ Thống kê của Síp và Eurostat. Một năm trước đó là âm -1.5%.

So với tháng 1 năm 2018, thay đổi lớn nhất được ghi nhận trong danh mục Nhà ở, Nước, Điện, Gas và Nhiên liệu Khác với mức thay đổi 11.5%.

So với tháng 12 năm 2018, thay đổi lớn nhất được ghi nhận trong danh mục Quần áo và Giày dép (-17.3%).

Liên quan đến nguồn gốc kinh tế, sự thay đổi lớn nhất khi so sánh với chỉ số của tháng 1 năm 2018 đã được theo dõi trong danh mục Thực phẩm, Đồ uống có cồn và Thuốc lá với mức thay đổi 4.3%. So với chỉ số của tháng trước đó, những thay đổi lớn nhất được chú ý ở Hàng hóa Công nghiệp Năng lượng và Phi năng lượng, với các thay đổi lần lượt là -4.8% và -4.7%.

Tỷ lệ lạm phát hàng năm của khu vực đồng Euro là 1.4% vào tháng 1 năm 2019, giảm từ mức 1.5% vào tháng 12. Một năm trước, tỷ lệ này là 1.3%. Lạm phát hàng năm của Liên minh châu Âu là 1.5% vào tháng 1 năm 2019, giảm từ mức 1,6% vào tháng 12. Một năm trước, tỷ lệ này là 1.6%. Lạm phát ở Hy Lạp đã giảm xuống 0.5% vào tháng 1 năm 2019, từ mức 0,6% vào tháng 12 năm 2018, trong khi một năm trước đó là 0.2%.

Các tỷ lệ hàng năm thấp nhất đã được ghi nhận ở Hy Lạp (0.5%), Croatia và Bồ Đào Nha (cùng 0.6%). Các tỷ lệ hàng năm cao nhất được ghi nhận ở Romania (3.2%), Latvia (2.9%), Estonia và Hungary (cùng 2.8%). So sánh với tháng 12 năm 2018, lạm phát hàng năm giảm ở mười sáu Quốc gia Thành viên, duy trì ổn định ở năm quốc gia và tăng ở bảy quốc gia.

Vào tháng 1 năm 2019, đóng góp cao nhất vào tỷ lệ lạm phát hàng năm khu vực đồng Euro đến từ các dịch vụ (+ 0,70 điểm phần trăm, pp), tiếp theo là thực phẩm, rượu và thuốc lá (+0,36 pp), năng lượng (+0,26 pp) và hàng hóa công nghiệp phi năng lượng (+0,06 pp).